Nội dung chính Thứ Hai, ngày 21 tháng 4 năm 2014, 19:9 (GMT+7)
Doanh nghiệp liên kết
  • CÔNG TY TNHH TƯ VẤN DU HỌC DU LỊCH CHÂU ĐẠI DƯƠNG
  • Chương trình giáo dục của Intel tại Việt Nam
  • Phát Hưng Thịnh
  • Saigon Shipyard
  • BMB Steel
  • CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ ĐIỆN ĐẠI CHÂU
  • Công ty VMEP
  • Công ty TRƯỜNG HẢI
  • Công ty EMECO
  • Công ty May BÌNH - MINH
  • Công ty VIKYNO
  • Công ty THIBIDI
  • Công ty Điện tử BÌNH HÒA
  • Công ty SAMCO
  • Công ty Ôtô TRƯỜNG LONG
  • Cong ty cơ khí Duy Khanh
  • Công ty SHIPYARD SG
Thống kê truy cập
Trực tuyến 9342 Số lượt truy cập 8648091
Giáo dục, đào tạo

Những phẩm chất nghề nghiệp của người lao động Việt Nam

Phẩm chất nghề nghiệp của người lao động là một khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng bản chất nhất được kết tinh trong con người lao động để có khả năng thực hiện một công việc, một nghề nhất định.

Đối với quốc gia, việc định hình những phẩm chất nghề nghiệp của người lao động lại càng quan trọng để tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và cải thiện khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập. Phẩm chất nghề nghiệp của cá nhân người lao động và của cả đội ngũ lao động của quốc gia có mối quan hệ mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau.    Tuy nhiên, đây là vấn đề cho đến nay ít được bàn đến để thống nhất và khuyến nghị những chính sách, giải pháp xây dựng những phẩm chất nghề nghiệp tốt đẹp của người lao động.
Phẩm chất nghề nghiệp của người lao động Việt Nam có những nội dung cơ bản sau:

Phẩm chất về sức khỏe thể lực, thần kinh tâm lý
Khi nói về phẩm chất nghề nghiệp rất quý của người lao động Việt Nam này người ta thường nhắc đến sự cần cù, thông minh, sáng tạo và linh hoạt, cũng như sức trẻ của lực lượng lao động do nước ta đang ở trong giai đoạn có cơ cấu dân số vàng (tỷ lệ lao động trẻ rất cao, chiếm khoảng 45%).
Tuy nhiên, trong nền sản xuất hiện đại, vấn đề sức khỏe thể lực và thần kinh tâm lý của người lao động là rất quan trọng. Nội dung của phẩm chất này thể hiện ở các thông số nhân trắc con người (chiều cao, cân nặng…), các chỉ số về sức khỏe thể lực, nhất là sự dẻo dai và thần kinh, tâm lý…Các chỉ số nói trên của người lao động càng  tiếp cận các tiêu chuẩn quy định thì phẩm chất này của người lao động càng được cải thiện.
Nhìn chung, thể lực của lao động nước ta trong những năm vừa qua đã được cải thiện, nhưng vẫn còn thấp so với các nước theo các chỉ số về nhân trắc (thấp, bé, nhẹ cân …) Do đó, rất khó khăn trong sử dụng và vận hành các máy móc, thiết bị hiện đại, kích cỡ lớn, làm việc trong môi trường không thuận lợi (trên cao, dưới sâu…) với cường độ lao động cao, điều kiện lao động nặng nhọc, gánh nặng thần kinh tâm lý lớn…Đây là vấn đề hệ trọng của quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực hướng vào cải thiện nòi giống qua từng thế hệ. Cho nên cần phải kiên trì và lâu dài, phụ thuộc rất nhiều vào mức sống và chất lượng cuộc sống, đặc biệt là chế độ chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng.

Phẩm chất về trình độ học vấn (dân trí)
Nội dung phẩm chất về trình độ học vấn của người lao động của quốc gia thể hiện ở số năm bình quân đi học; tỷ lệ lao động biết chữ; mức độ giáo dục phổ cập…Trong báo cáo về chỉ số Phát triển Con người (HDI) hàng năm của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), chỉ số giáo dục được dùng để đánh giá trình độ học vấn của các quốc gia và có thể so sánh quốc tế. Trình độ học vấn của người lao động càng cao thì phẩm chất này của người lao động càng tốt.
Phẩm chất nghề nghiệp rất quý của người lao động Việt Nam là tính cần cù, thông minh, sáng tạo và linh hoạt cũng như sức trẻ của lực lượng lao động
So với thế giới, trình độ học vấn của nước ta khá cao, xếp vào hạng trên trung bình, 94% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ (2009), số năm đi học bình quân đạt mức 7,8 năm, về cơ bản đã phổ cập cấp giáo dục tiểu học và đang trong giai đoạn kết thúc phổ cập THCS vào năm 2010. Trình độ học vấn của lực lượng lao động cũng khá cao, năm 2008 đạt khoảng 96 % lực lương lao động biết chữ, trong đó, 32,08 % tốt nghiệp THCS và 23,58% tốt nghiệp THPT. Phẩm chất này của người lao động là kết quả của chủ trương, chính sách coi giáo dục là quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta.
Mặc dù vậy, tỷ lệ lao động không biết chữ vẫn chiếm tới 4%, và có tới 40,36% lao động mới có trình độ giáo dục tiểu học. Lao động ở khu vực nông thôn, khu vực phi kết cấu có trình độ học vấn thấp; đặc biệt là lao động vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số trình độ học vấn rất thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ cao. Theo UNESCO, năm 2008 Việt Nam tiếp tục mất điểm về Chỉ số Phát triển Giáo dục cho mọi người (EDI), là chỉ số được đánh giá theo 4 tiêu chí cơ bản (phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ cho người lớn, bình đẳng giới trong giáo dục và chất lượng giáo dục), tụt 9 bậc trong bảng xếp hạng, đứng vị trí 79 trong 129 quốc gia. Đó là những yếu kém của lao động Việt Nam, cần phải có giải pháp mạnh để hoàn thiện.

Phẩm chất về năng lực chuyên môn kỹ thuật, nhất là về kỹ năng nghề nghiệp
Đây là phẩm chất về chất lượng cực kỳ quan trọng của người lao động. Nội dung của phẩm chấtvề năng lực chuyên môn kỹ thuật, nhất là về kỹ năng nghề nghiệp, của người lao động được phản ánh ở tỷ lệ lao động qua đào tạo nói chung (cao đẳng, đại học, sau đại học và dạy nghề) và qua đào tạo nghề theo các cấp trình độ; chỉ số về năng lực canh tranh của lao động; chỉ số đánh giá chất lượng lao động…Các chỉ số nói trên càng cao sẽ tỷ lệ thuận với phẩm chất này của người lao động.
Phẩm chấtvề năng lực chuyên môn kỹ thuật, nhất là về kỹ năng nghề nghiệp của người lao động Việt Nam trong những năm qua được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng, chất lượng lao động ngày một nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, của thị trường lao động. Năm 2009, tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 38% và qua đào tạo nghề khoảng 28%, ước tính năm 2010 tỷ lệ này tương ứng là 40% và 30%. Theo kết quả điều tra năm 2009 tại 1500 doanh nghiệp, cơ cấu về trình độ chuyên môn, kỹ thuật cũng khá cao ( đại học trở lên: 6,22%; cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề: 6,54%; trung học chuyên nghiệp và trung cấp nghề: 5,78%; công nhân kỹ thuật có bằng hoặc qua đào tạo nghề: 56,08%). Trong các doanh nghiệp, nhiều công việc, nghề trước đây phải thuê lao động nước ngoài thì nay lao động Việt Nam có thể thay thế. Phẩm chất này còn thể hiện rất rõ tại các cuộc thi tay nghề ASEAN, đoàn lao động Việt Nam thường giành những ngôi vị cao.
Tuy nhiên, yếu điểm cơ bản của lao động nước ta là tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là đào tạo nghề còn thấp, chỉ bằng 1/3 các nước và các nền công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…; trong số lao động qua đào tạo, nhất là qua đào tạo nghề, chỉ 1/3 là được đào tạo dài hạn, trình độ cao nên kỹ năng, tay nghề còn yếu, đặc biệt là so với tiêu chuẩn nghề của khu vực và thế giới, dẫn đến thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, các nhà quản lý và chuyên gia giỏi; mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu đào tạo, năm 2007 trong số lao động qua  đào tạo thì cứ 1 qua đào tạo đại học, chỉ có 0,76 qua đào tạo trung học và 3 qua đào tạo nghề; chất lượng đào tạo nghề nghiệp chưa cao nên khả năng cạnh tranh của lao động rất thấp.Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong 12 nước ở châu Á được tham gia xếp hạng; thiếu nhiều chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề; Chỉ số Kinh tế Tri thức ( KEI) của nước ta còn thấp, chỉ đạt 3,02 điểm, xếp thứ 102/133 quốc gia được phân loại; lao động nông thôn chủ yếu chưa được đào tạo nghề, năng suất lao động thấp. Điều này đã làm hạn chế năng lực cạnh tranh của lao động và nền kinh tế (năm 2009 năng lực cạnh tranh của nước ta giảm 5 bậc, xếp thứ 75/133 nước xếp hạng). Năng suất lao động của nước ta cũng rất thấp, năm 2008 GDP bình quân đầu người theo giá thực tế, chưa loại trừ yếu tố lạm phát, chỉ đạt 17 triệu đồng/ năm (khoảng 1024 USD); năng suất lao động khoảng 30 triệu đồng/lao động/ năm (khoảng 1.765USD), thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là một thách thức lớn đối với nước ta trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, đi vào kinh tế tri thức và hội nhập, cần phải có giải pháp đột phá để vượt qua.

Phẩm chất  về  văn hóa nghề nghiệp
Văn hoá  nghề nghiệp của người lao động bao gồm thái độ, suy nghĩ, cách thức hành vi của người lao động hướng tới những giá trị nhân bản (về đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, về thái độ, tác phong trong lao động, về ý thức chấp hành luật pháp, kỷ luật lao động...) trong hoạt động nghề nghiệp và không ngừng được hoàn thiện những giá trị, chuẩn mực này để điều chỉnh hành vi của người lao động trong thực hiện công việc, hay một nghề nhất định, trở thành trách nhiệm và ý thức tự giác, thường nhật của người lao động, hay trở thành nét văn hoá nghề nghiệp kết tinh trong con người.
Văn hóa nghề nghiệp của người lao động Việt Nam đi vào truyền thống lịch sử của dân tộc, kế thừa và phát huy qua các thế hệ. Đó là lòng nhân ái, tình yêu và say mê nghề nghiệp với tư duy, nếp nghĩ "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, "một nghề cho chín hơn chín mười nghề”, làm việc có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp. Đó là truyền thống quý báu cần được gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường và nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lao động nước ta cũng bộc lộ những nhược điểm rất cơ bản. Từ nền sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp chuyển sang nền sản xuất hàng hoá và công nghiệp hiện đại, người lao động còn bị ảnh hưởng nặng nề tư tưởng, thói quen của nền sản xuất tiểu nông manh mún, thiếu tính toán hiệu quả kinh tế, lãng phí ...; tác phong công nghiệp chưa trở thành phổ biến, nên tính tự do, ý thức chấp hành luật pháp, kỷ luật trong lao động còn yếu...; khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong mội trường đa văn hóa, đa sắc tộc... còn rất hạn chế, đặc biệt là những rào cản về văn hóa, về ngôn ngữ khi có yếu tố lao động nước ngoài hoặc làm việc ở nước ngoài. Có thể nói, văn hóa nghề nghiệp của người lao động nước ta trong một nền công nghiệp hiện đại chưa hình thành. Do đó phẩm chất nghề nghiệp này của người lao động còn yếu, cần phải mất nhiều thời gian và kiên trì mới có thể xây dựng được.

Phẩm chất về năng lực thích ứng và năng động
Phẩm chất này của người lao động thể hiện ở sự định hướng đúng nghề nghiệp để học lấy một nghề phù hợp với tư chất, sở thích, năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu của thị trường; ở ý thức và ý chí quyết tâm trong học tập, học tập suốt đời; kỹ năng nắm bắt nhanh nhậy thông tin thị trường; kỹ năng trả lời phỏng vấn, đàm phán, thỏa thuận;  khả năng sẵn sàng di chuyển, thay đổi việc làm trên thị trường lao động; khả năng ứng phó với các cú sốc, các rủi ro trong kinh tế thị trường, nhất là do doanh nghiệp phá sản, khủng hoảng kinh tế, cải cách thể chế...dẫn đến bị sa thải, bị thiếu việc làm và thất nghiệp.
Trong những năm qua phẩm chất này của lao động Việt nam có xu hướng tốt lên, nhất là ở nhóm lao động trẻ và lao động qua đào tạo, đặc biệt là được đào tạo ở trình độ cao, song nhìn chung vẫn còn hạn chế. Đặc biệt là rất thụ động và thiên lệch trong định hướng nghề nghiệp; thiếu nhanh nhậy trong nắm bắt và tiếp cận thông tin thị trường; yếu kém về kỹ năng phỏng vấn, đàm phán và thỏa thuận; tính năng động, cơ động trong di chuyển và thay đổi việc làm không cao; khá thụ động trong ứng phó với các rủi ro xẩy ra... ./.

 

Print Email
 First   Back  2122232425 Next  Last