Nội dung chính Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014, 17:34 (GMT+7)
Doanh nghiệp liên kết
  • CÔNG TY TNHH TƯ VẤN DU HỌC DU LỊCH CHÂU ĐẠI DƯƠNG
  • Chương trình giáo dục của Intel tại Việt Nam
  • Phát Hưng Thịnh
  • Saigon Shipyard
  • BMB Steel
  • CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ ĐIỆN ĐẠI CHÂU
  • Công ty VMEP
  • Công ty TRƯỜNG HẢI
  • Công ty EMECO
  • Công ty May BÌNH - MINH
  • Công ty VIKYNO
  • Công ty THIBIDI
  • Công ty Điện tử BÌNH HÒA
  • Công ty SAMCO
  • Công ty Ôtô TRƯỜNG LONG
  • Cong ty cơ khí Duy Khanh
  • Công ty SHIPYARD SG
Thống kê truy cập
Trực tuyến 3764 Số lượt truy cập 8624698
Giáo dục, đào tạo

Định hướng phát triển thị trường lao động Việt Nam đến năm 2020

Đánh giá tổng quan thị trường lao động nước ta thời kỳ 2001-2010 cho thấy: thị trường lao động tiếp tục được phát triển theo hướng hiện đại hóa và định hướng thị trường; khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị trường lao động từng bước được hoàn thiện; các kết quả trên thị trường lao động được cải thiện như chất lượng cung tăng lên, cơ cấu cầu lao động chuyển dịch tích cực, thu nhập, tiền lương được cải thiện, năng suất lao động và tính cạnh tranh của lực lượng lao động tăng lên.

Tuy nhiên, với bối cảnh chuyển đổi và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới thì sự hình thành và phát triển của thị trường lao động Việt Nam vẫn mang đặc điểm của một thị trường còn nhiều yếu kém. Đó là, lao động chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp, khu vực phi kết cấu, năng suất thấp, nhiều rủi ro, tình trạng chia sẻ công việc, chia sẻ việc làm còn phổ biến; về cơ bản Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động trong nông nghiệp, nông thôn với chất lượng cung lao động thấp, phân bổ chưa hợp lý và khả năng di chuyển còn bị hạn chế; cầu lao động thấp về số lượng và vẫn còn một tỷ lệ lớn lao động làm việc trong các nghề giản đơn, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thụât, khu vực làm công ăn lương phát triển chậm; tuy tỷ lệ thất nghiệp khá thấp, tỷ lệ thiếu việc làm vẫn còn khá nghiêm trọng và 2/3 đến 3/4 số việc làm là không bền vững, nguy cơ có việc làm mà vẫn nghèo cao; hệ thống luật pháp về thị trường lao động chưa đầy đủ; cơ sở hạ tầng của thị trường lao động chưa phát triển đồng bộ dẫn đến khả năng kết nối cung cầu lao động kém; có sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động, mặc dù thiếu việc làm chiếm tỷ lệ lớn, nhưng một số ngành nghề, địa phương.. không tuyển được lao động; thiếu chính sách phù hợp để quản lý di chuyển lao động trong nước và quốc tế; chưa thiết lập hệ thống quan hệ lao động hiện đại dựa vào cơ chế đối thoại, thương lượng hiệu quả giữa các đối tác xã hội; hệ thống giáo dục, hướng nghiệp và đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là đối với lao động yêu cầu kỹ năng cao; một bộ phận lớn người lao động chưa được bảo vệ trong thị trường; thị trường lao động bị phân mảng, có sự phân cách lớn giữa thành thị-nông thôn, vùng động lực phát triển kinh tế-vùng kém phát triển, lao động không có kỹ năng-có kỹ năng.


Thị trường lao động Việt Nam được đánh giá vẫn còn nhiều yếu kém

Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên là do chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, chức năng và lộ trình phát triển của thị trường lao động; khuôn khổ pháp lý cho phát triển doanh nghiệp và thị trường lao động chậm đổi mới tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, phân bổ nguồn nhân lực, thu nhập và chia sẻ rủi ro; các điều kiện để phát triển đồng bộ cung, cầu lao động và gắn kết cung- cầu lao động yếu kém; các thể chế quan hệ lao động và quản trị thị trường lao động còn yếu; huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho phát triển thị trường lao động chưa hợp lý và kém hiệu quả.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, Việt Nam sẽ tiếp tục có các cơ hội và gặp nhiều thách thức đối với sự phát triển thị trường lao động. Quá trình phân công sản xuất trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu sẽ kéo theo sự tái phân bố lao động và sự phụ thuộc lẫn nhau của thị trường lao động các quốc gia. Các công ty xuyên quốc gia không chỉ là tác nhân giúp các nước và lãnh thổ kinh tế tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất toàn cầu, mà còn có vai trò là người sử dụng lao động đa quốc gia, sẽ đặt ra những tiêu chuẩn lao động mới, thách thức các khuôn khổ tiêu chuẩn và luật pháp lao động quốc gia. Cạnh tranh quốc tế trong phân công lao động sẽ thúc đẩy cạnh tranh và phân công lao động trong nước, năng lực cạnh tranh quốc gia sẽ phụ thuộc vào mức độ thành công của tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam (chuyển từ chiến lược dựa vào các ngành sử dụng nhiều vốn, khai thác tài nguyên thô, lao động giá rẻ sang các ngành sản xuất công nghệ cao cho năng suất cao). Trong khi đó, bối cảnh trong nước cũng có nhiều thuận lợi đan xen với những khó khăn mới. Nền kinh tế tiếp tục mở cửa, tạo điều kiện phát huy tốt hơn những thế mạnh trong nước nhưng cần khắc phục những hạn chế kìm hãm nhu cầu nội địa và cho xuất khẩu, các tiêu chuẩn hàng hóa sản xuất và tiêu chuẩn lao động trở thành các ràng buộc cạnh tranh, kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ cao là điều kiện cơ bản để giải quyết việc làm nhưng yêu cầu phải bền vững, thể chế thị trường lao động tiếp tục cần hoàn thiện để phù hợp với thông lệ quốc tế.  

Để phát triển thị trường lao động giai đoạn 2011-2020 cần thể hiện rõ quan điểm phát triển, đó là phát triển thị trường lao động phải đáp ứng mục tiêu tăng trưởng bền vững, hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và phát triển con người; trong quá trình phát triển phải bảo đảm thực hiện tốt ba chức năng cơ bản của thị trường lao động: phân bố lao động hợp lý, phân chia và điều tiết thu nhập, phân tán và hạn chế rủi ro nhằm phân phối công bằng hơn những thành quả đạt được của tăng trưởng cho mọi người; cần tôn trọng các qui luật của nền kinh tế thị trường, chú trọng nâng cao vai trò, năng lực của doanh nghiệp và tổ chức công đoàn trên thị trường lao động; đặc biệt cần tăng cường vai trò của Nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, tạo ra sân chơi bình đẳng thu hút đầu tư, thúc đẩy tính cạnh tranh, xóa bỏ các rào cản, phân biệt trong thị trường và hỗ trợ thị trường lao động phát triển.

 Như vậy, phát triển thị trường lao động đến năm 2020 cần tập trung vào các định hướng sau: Thứ nhất, tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường lao động trong nước và trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thứ hai, bảo đảm phân bố lao động đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, phát triển mạnh thị trường lao động chính thức, đặc biệt chú trọng phát triển doanh nghiệp trong các đô thị lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, hỗ trợ lao động trong khu vực phi chính thức để giảm sự chia cắt giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế, giữa các loại hình doanh nghiệp, giữa các nhóm người lao động kỹ năng và không kỹ năng. Thứ ba, trong giai đoạn đầu (2011-2015), cần dựa vào chiến lược phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, hướng về xuất khẩu, phát huy được các lợi thế so sánh và tiềm năng của lực lượng lao động nhưng dần xóa bỏ sự phụ thuộc vào lao động giá rẻ và kỹ năng thấp; giai đoạn sau (2016-2020), tập trung vào nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ yêu cầu công nghệ và kỹ năng cao nhằm đạt mức năng suất lao động trung bình trong khu vực. Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đẩy mạnh đào tạo kỹ năng, năng lực thực hành, phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế và nhu cầu học tập suốt đời của người dân, chuẩn hóa chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế. Thứ năm, bảo đảm sự tự do lựa chọn việc làm và thúc đẩy dịch chuyển lao động đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng của thị trường lao động và tổ chức cung cấp các dịch vụ công có hiệu quả. Thứ sáu, tăng cường an sinh xã hội cho người lao động trong khi làm việc và chuyển đổi việc làm.

Mục tiêu chung của phát triển thị trường lao động đến năm 2020 là đảm bảo có một thị trường hiện đại, hiệu quả, cạnh tranh và công bằng, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước được nêu trong Chiến lược Phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020. Mục tiêu này cần được triển khai thành các mục tiêu cụ thể, thể hiện rõ các yêu cầu về các mặt cung, cầu, kết nối cũng như an sinh cho người lao động. Một là,nâng cao chất lượng và tăng cường năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực - năm 2020 đạt phổ cập giáo dục trung học đối với thanh niên theo những tiêu chí chung được sử dụng rộng rãi trên thế giới; tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao động đạt 70%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong tổng số lao động đạt 55%; năng suất lao động tăng 5,5-6%/năm, đạt mức trung bình ASEAN. Hai là, việc làm đầy đủ và bền vững cho người lao động - năm 2020 việc làm nông nghiệp trong tổng số việc làm giảm xuống còn 30%; tỷ lệ lao động làm công ăn lương trong tổng lao động có việc làm đạt 50%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị đạt dưới 5%; cả nước đạt dưới 3%; tiền lương tối thiểu đạt 85% mức trung bình ASEAN; mức tiền lương trung bình/tháng/lao động tăng 12-14%/năm. Ba là, gắn kết cung-cầu lao động, phát triển đồng bộ các yếu tố hạ tầng của thị trường lao động - năm 2020 phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia đảm bảo nối mạng đến các thành phố/thị trấn lớn của 63 tỉnh/thành phố cả nước; công bố hàng tháng các chỉ tiêu chính của thị trường lao động; 70% học sinh, 50% sinh viên tốt nghiệp các cơ sở đào tạo được hướng nghiệp, tư vấn và dịch vụ việc làm; hệ thống dịch vụ việc làm đảm bảo cung cấp dịch vụ cho 3% lực lượng lao động. Bốn là, hỗ trợ các nhóm yếu thế hòa nhập thị trường lao động và đẩy mạnh an sinh xã hội - năm 2020 có 70% số người lao đông yếu thế trên thị trường lao động được tiếp cận đào tạo nghề và hỗ trợ tìm việc làm; có 28,4 triệu người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, chiếm 51,8% tổng số lao động cả nước;  15,7 triệu lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 84,5% số đối tượng bắt buộc; và 100% dân cư tham gia bảo hiểm y tế.

Để đạt các mục tiêu trên thì các giải pháp phát triển thị trường lao động giai đoạn 2011-2020 cần được thiết kế đồng bộ, từ luật pháp, cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp đến cung cấp các dịch vụ công và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như năng lực, trình độ của các chủ thể trên thị trường lao động, đặc biệt là vai trò của Nhà nước trong quản lý, đánh giá, giám sát và  hỗ trợ thúc đẩy phát triển.

Về mặt thể chế, chính sách cần xây dựng các Luật Việc làm, Luật Tiền lương tối thiểu, Luật Quan hệ lao động, Luật An toàn, vệ sinh lao động, hoàn thiện Luật Bảo hiểm xã hội; xây dựng Luật Bảo hiểm thất nghiệp (tách bảo hiểm thất nghiệp ra khỏi Luật Bảo hiểm xã hội như hiện nay), trong đó mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, hoàn thiện hệ thống chính sách, bộ máy quản lý đủ mạnh để giải quyết vấn đề việc làm và chống thất nghiệp. Sửa đổi Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Người lao động Việt Nam làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài, Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn... phù hợp với quy luật của thị trường, lợi ích chính đáng và hợp pháp của người lao động và doanh nghiệp. Làm rõ vai trò của Nhà nước, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện của họ, người lao động và tổ chức công đoàn và các đối tác khác trên thị trường lao động, hoàn thiện hệ thống thể chế về thỏa ước lao động tập thể cấp ngành, cấp hiệp hội doanh nghiệp; xem xét và phê chuẩn các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến thị trường lao động.

Về tăng cường năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực, tiếp tục nâng cao chất lượng chung về giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước, của khu vực và trên thế giới; phát triển mạnh hệ thống dạy nghề đáp ứng nhu cầu phát triển về quy mô và cơ cấu nghề đào tạo cho các ngành kinh tế và phổ cập nghề cho thanh niên, đặc biệt cần có những chính sách đột phá hỗ trợ doanh nghiệp trở thành chủ thể chính trong đào tạo đội ngũ lao động có kỹ năng cao; xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ chuyển đổi từ giai đoạn học tập sang giai đoạn gia nhập thị trường lao động; hỗ trợ di chuyển lao động tạo điều kiện cho lực lượng lao động phân bố hợp lý và hiệu quả.

Về việc làm đầy đủ và bền vững, cần đẩy mạnh giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương, từng vùng, miền; cải thiện môi trường cạnh tranh và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp; cải thiện khu vực phi chính thức, thúc đẩy sự hội nhập của khu vực này vào chuỗi giá trị gia tăng quốc gia; Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2011-2015 cần hướng đến các mục tiêu của “việc làm xanh” và việc làm bền vững; bảo đảm tiền lương, thu nhập thực tế của người lao động; tăng cường cải thiện điều kiện làm việc của người lao động.

Về gắn kết cung- cầu lao động, cần phát triển hệ thống định hướng nghề nghiệp; phát triển hệ thống dịch vụ việc làm; phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động.

Về hỗ trợ các nhóm yếu thế và đẩy mạnh an sinh xã hội, cần bảo đảm bình đẳng giới; hỗ trợ nhóm yếu thế có việc làm, nâng cao thu nhập và tham gia thị trường lao động; hoàn thiện bảo hiểm thất nghiệp và hỗ trợ người dân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đẩy mạnh trợ giúp xã hội.

Về quản trị thị trường lao động, cần nâng cao nhận thức của mọi đối tác xã hội về thị trường lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa và nâng cao hiệu quả quản lý thị trường lao động.

PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc

Nguồn tin: TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI
Print Email
 First   Back  1234 Next  Last